read

THẾ NÀO LÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG TÀI CHÍNH VI MÔ?

By Hùng Phạm

Đối với hầu hết các tổ chức tài chính vi mô hay chương trình/dự án tài chính vi mô (gọi chung là Định chế Tài chính vi mô) thì vấn đề chuyển đổi số hay số hóa trong hoạt động không còn là một sự lựa chọn mà gần như là một con đường tất yếu để những Định chế Tài chính vi mô này duy trì được sự cạnh tranh và phát triển. Xu thế này không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà là thực tế nhiều năm trên Thế giới, từ những quốc gia phát triển tới những quốc gia chậm phát triển tại vùng sừng châu Phi. Để tối đa hóa hiệu quả hoạt động, bao gồm mục tiêu tài chính bền vững, các Định chế Tài chính vi mô không thể đứng ngoài cuộc chơi chuyển đổi số.

 

Thế nào là chuyển đổi số

Tại Việt Nam, Chuyển đổi số được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)… thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty. Ngoài ra, theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2017 thì Hoạt động tài chính vi mô bao gồm việc cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng tài chính vi mô, nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tài chính vi mô dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tiết kiệm tự nguyện. Như vậy, chuyển đổi số trong hoạt động tài chính vi mô được coi là việc các định chế tài chính vi mô ứng dụng các công nghệ mới như dữ liệu lớn, Internet vạn vật, điện toán đám mây để chuyển đổi phương thức hoạt động của mình như nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tài chính vi mô, cho vay khách hàng tài chính vi mô… từ đó giải phóng nguồn lực, tối ưu hóa chất lượng dịch vụ tài chính vi mô.  

 

Sự hỗ trợ của Chính phủ

Với quyết tâm ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt đời sống xã hội nói chung và lĩnh vực tài chính – ngân hàng nói riêng, từ năm 2010 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã quyết liệt ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Chiến lược tài chính toàn diện Quốc Gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được ban hành trong Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ liên tục đề cập đến việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động tài chính ngân hàng, có thể kể đến:

 

  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tăng cường đổi mới sáng tạo trong thiết kế và phân phối sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng đơn giản, tiện lợi, dễ sử dụng, giảm chi phí, phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của mọi người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa, người có thu nhập thấp, người yếu thế;
  • Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật về việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính, nhất là những sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ số nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, đầy đủ, kịp thời cho các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính   

 

Như vậy, số hóa các dịch vụ truyền thống trong hoạt động hàng ngày là nhu cầu tất yếu và cấp thiết, đưa ra rất nhiều tiềm năng và cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho hoạt động của các định chế tài chính vi mô tại Việt Nam trong thời gian tới.

 

Lợi ích cho các định chế tài chính vi mô

Chuyển đổi số giúp các định chế tài chính vi mô tiếp cận được lượng khách hàng rất lớn ở các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Đây là một ưu điểm mà những phương pháp tiếp cận thông thường khó có thể mang lại. Theo thống kế của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 6/2019, Việt Nam có khoảng 51,1 triệu thuê bao di động bang rộng gồm cả thuê bao 3G và 4G,[1] trong đó có đến 43,7 triệu người dân có sử dụng điện thoại thông minh (smartphone).[2] Tuy nhiên, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến hết năm 2017, gần 70% người trưởng thành tại Việt Nam không có khả năng tiếp cận với những dịch vụ tài chính – ngân hàng thông thường.[3] Bằng việc hợp tác với những công ty cung cấp dịch vụ công nghệ tài chính (fintech) trong quá trình chuyển đổi số và đa dạng hóa hình thức cung cấp dịch vụ, các định chế tài chính vi mô hoàn toàn có thể tận dụng nguồn tài nguyên khổng lồ từ hơn 40 triệu điện thoại thông minh hiện nay.

 

Chuyển đổi số giúp công việc của các định chế tài chính vi mô trở nên nhanh gọn và hiệu quả.

Số hóa giúp các định chế tài chính vi mô dễ dàng thu thập, đánh giá và phân tích dữ liệu của khách hàng. Không những vậy, gánh nặng quản lý dữ liệu cũng đươc loại trừ. Các dữ liệu của định chế tài chính vi mô có thể thu thập, lưu trữ, truy xuất dễ dàng và có hệ thống, tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức so với phương pháp lưu trữ bằng tài liệu giấy truyền thống. Như vậy, các định chế tài chính vi mô có thể giảm thiểu chi phí vận hành, tăng thời gian chăm sóc khách hàng, tăng thêm đóng góp cho xã hội.

Như vậy, có thể khẳng định, chuyển đổi số nói chung và chuyển đổi số trong hoạt động tài chính – ngân hàng là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước, phù hợp với thực tiễn vận động chung của thế giới. Trên cơ sở nhiều chính sách ưu đãi của nhà nước đối với các công ty khởi nghiệp fintech và nhu cầu của thị trường, làn sóng hợp tác giữa những công ty fintech và các định chế tài chính vi mô trong quá trình chuyển đổi số được dự đoán hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới.

 

----

Nguồn số liệu

[1]  Việt nam có 51,1 triệu thuê bao di động băng rộng https://ictnews.vietnamnet.vn/cntt/nuoc-manh-ve-ict/viet-nam-co-51-1-trieu-thue-bao-di-dong-bang-rong-184920.ict

[2]  43,7 triệu người Việt Nam đang sở hữu smartphone http://kinhtedothi.vn/437-trieu-nguoi-viet-dang-so-huu-smartphone-365791.html

[3]  Quy mô thị trường tài chính số Việt Nam sẽ đạt 3,8 tỷ USD vào năm 2025 https://tinnhanhchungkhoan.vn/fin-tech/quy-mo-thi-truong-tai-chinh-so-viet-nam-se-dat-38-ty-usd-vao-nam-2025-302974.html